Lựa chọn nào cho bệnh cao huyết áp.

(Yeusuckhoe.net) - Huyết áp tăng cao dẫn đến các biến chứng ở não, tim và thận thông qua 2 cơ chế, cả hai cơ chế này đều do ảnh hưởng của tăng áp lực trong động mạch.

Mối liên hệ giữa bệnh cao huyết áp với bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não:

Huyết áp tăng cao dẫn đến các biến chứng ở não, tim và thận thông qua 2 cơ chế, cả hai cơ chế này đều do ảnh hưởng của tăng áp lực trong động mạch.Thứ nhất là do ảnh hưởng của áp lực máu cao trên cấu trúc và chức năng của tim và mạch máu; thứ hai là do sự tiến triển của vữa xơ động mạch. Cơ chế đầu tiên là do hậu quả trực tiếp của huyết áp, trong khi cơ chế thứ hai là do sự tương tác với các yếu tố nguy cơ khác để gây ra các bệnh tim mạch, quan trọng nhất là tăng cholesterol máu. Do vậy, tai biến mạch máu não liên quan chặt chẽ với các ảnh hưởng trực tiếp của huyết áp, trong khi bệnh động mạch vành liên quan với vữa xơ động mạch. Sự liên quan giữa huyết áp với tai biến mạch máu não chặt chẽ hơn là với biến cố động mạch vành.

Liệu đã là lựa chọn đúng khi chấp nhận uống tân dược suốt đời?

Tất cả thuốc điều trị cao huyết áp đều có chung một tác dụng là hạ huyết áp dù chúng tác động theo những cơ chế khác nhau. Tuy nhiên, nếu sử dụng lâu dài, thuốc trị cao huyết áp có thể gây ra những tác dụng phụ không mong muốn.

Thuốc trị cao huyết áp không những làm thay đổi chức năng cơ thể mà còn làm ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, các cơ quan nội tạng, nhất là thận. Tất cả cơ quan trong cơ thể chúng ta có mối quan hệ nội tại với nhau.

Cho dù một loại thuốc nhân danh tác động lên một cơ quan nào đó cũng có thể gây tác dụng phụ trên những cơ quan khác của cơ thể. Chẳng hạn một nhóm thuốc dùng phổ biến trong điều trị cao huyết áp là chẹn beta (beta blockers). Nhóm thuốc này làm giảm bớt khả năng đập nhanh của tim nên có tác dụng hạ huyết áp, tuy nhiên sử dụng lâu dài sẽ làm giảm năng lực hoạt động của bệnh nhân.

Một loại thuốc hạ huyết áp nữa là nhóm thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin (ACE inhibitor - Angiotensin converting enzyme inhibitor). Nhóm thuốc này làm giảm huyết áp bằng cách làm giảm sự hoạt động của một số chất hóa học trong máu vốn làm căng thành mạch máu. Một loại thuốc thuộc nhóm này là Lisinopril có tác dụng phụ gây kích động, ho, choáng váng, mệt mỏi, đôi khi gây tăng nhịp tim hoặc gây ra nhịp tim bất thường.

Thêm một nhóm thuốc khác trịcao huyết áplà nhóm thuốc ức chế kênh calcium. Loại thuốc này dùng để giảm nhịp tim, tuy nhiên cũng gây nhức đầu, buồn nôn, táo bón, giữ nước cơ thể.

Còn đối với nhóm chẹn alpha (alpha blockers) có thể gây nhức đầu, tim đập nhanh, làm tăng nồng độ cholesterol trong máu, nếu sử dụng lâu có thể gây suy tim. Một nhóm thuốc khác là thuốc giãn mạch (vasodilators) có tác dụng phụ gây sung huyết mũi, đau ngực, tim đập nhanh, sử dụng lâu ngày có thể gây tổn hại mô liên kết gây nên bệnh lupus.

Người bệnh tăng huyết áp phải gánh chịu nhiều hệ lụy từ việc phải dùng nhiều loại thuốc tây để điều trị. Đầu tiên là những cơn mệt mỏi và đau đầu, căng thẳng, bốc hỏa khi hết tác dụng của thuốc, huyết áp tăng trở lại. Những tác dụng phụ của thuốc tây như gây ho, gây mệt mỏi, hại chức năng của gan, thận khiến người bệnh ngán ngẩm khi phải uống thuốc mỗi ngày. Người bệnh bị cuốn vào một vòng luẩn quẩn mệt mỏi, mất ngủ, tăng huyết áp, uống thuốc nhiều thuốc nhưng vẫn không thể điều trị dứt điểm.

Cảm ơn bạn đã quan tâm!

Prev Những hiểu biết sai lầm về bệnh cúm
Next Phân biệt đau đầu do tăng huyết áp và rối loạn tuần hoãn não

Bạn có ý kiến? Hãy để lại một bình luận

Quan tâm tuần này